Phương pháp dạy học nêu vấn đề

1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề

Phương pháp dạy học nêu vấn đề là một trong những phương pháp dạy học được nhiều người đánh giá là có hiệu quả cao, nhất trong là trong quá trình dạy học ở bậc cao đẳng, đại học. Sử dụng phương pháp dạy học này sẽ kích  thích tính chủ động, tích cực, sáng tạo và tăng cường độ làm việc của cả giảng viên và sinh viên trong suốt quá trình lên lớp. Đây là một hình thức dạy học mà trong đó người giảng viên tìm mọi biện pháp để đưa sinh viên vào các tình huống có vấn đề, hướng dẫn và giúp đỡ sinh viên phát huy tính sáng tạo và tính tích cực cá nhân để giải quyết các vấn đề được đặt ra nhằm đạt mục đích cuối cùng là giúp sinh viên nắm được tri thức mới hoặc cách thức hành động mới khi họ tích cực tham gia vào quá trình dạy học nêu vấn đề.

Thực tiễn dạy học các bộ môn khoa học xã hội nói chung và bộ môn giáo dục học ở các trường ĐH, CĐ nói riêng cho thấy: Mặc dầu đã cố gắng nhiều trong việc thay đổi cách dạy và học, song phần nhiều vẫn thiên về phương pháp dạy học truyền thống nên hiệu quả học tập chưa cao. Hơn nữa đây là các bộ môn nặng về lý luận, trong khi thực tiễn dạy học lại vô cùng phong phú, nếu bài dạy không gắn với thực tiễn sẽ trở nên khô khan, cứng nhắc, giáo điều, khó tiếp thu.

Với những đặc điểm nêu trên đòi hỏi người giảng viên khi dạy học các bộ môn khoa học xã hội phải có năng lực sư phạm, có trình độ chuyên môn cao, đặc biệt phải biết vận dụng sáng tạo những phương pháp dạy học để phát huy tính tích cực nhận thức của sinh viên. Dạy học nêu vấn đề là một trong những phương hướng cơ bản đáp ứng yêu cầu trên.

2. Kết cấu của phương pháp dạy học nêu vấn đề

2.1. Giai đoạn xây dựng tình huống có vấn đề:

Để có được tình huống có vấn đề, trước hết cần phân tích cấu trúc nội dung bài giảng, xác định rõ từng đơn vị kiến thức, sắp xếp chúng theo những trình tự nhất định. Có thể theo quan hệ chính – phụ, quan hệ lệ thuộc, quan hệ nhân quả. Tình huống có vấn đề có thể được xây dựng dưới những dạng cơ bản sau:

- Câu hỏi:

Tình huống có vấn đề dưới dạng câu hỏi có thể được sử dụng ở phần đặt vấn đề bắt đầu vào một chương, một bài hay một phần nào đó hoặc dùng để chuyển tiếp từ phần này sang phần khác. Cấu trúc câu hỏi có vấn đề gồm 3 phần:

+ Cái cần tìm: đó là những phạm trù, khái niệm, kỹ năng, phương pháp tiếp cận một vấn đề lý thuyết hay thực tiễn.

+ Cái đã biết: có liên quan đến cái cần tìm để dựa vào đó mà lĩnh hội cái cần tìm.

+ Từ để hỏi: có thể sử dụng các từ để hỏi: gì, nào, sao, bao giờ, đâu…?

- Tình huống sư phạm:

Là một tình huống xảy ra trong thực tiễn dạy học và giáo dục mà trong đó chứa đựng vấn đề hay mâu thuẫn cần giải quyết, một cách làm hợp lý hay không hợp lý… Xây dựng tình huống có vấn đề bằng cách đưa ra một tình huống sư phạm có tác dụng đặt sinh viên vào một tình huống có thực, đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ, vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để lý giải, giải quyết vấn đề được đặt ra trong tình huống. Trên cơ sở đó sinh viên rút ra những kết luận, khái quát lại thành tri thức lý thuyết đồng thời rèn luyện cho sinh viên những kỹ năng xử lý tình huống xảy ra trong thực tiễn sau này.

- Bài tập tình huống:

Tình huống có vấn đề dưới dạng bài tập là một yêu cầu cụ thể do giảng viên đưa ra trong quá trình dạy học đòi hỏi sinh viên phải tự giác suy nghĩ, sưu tầm, nghiên cứu các tài liệu có liên quan, huy động vốn kinh nghiệm đã có hoặc tham khảo ý kiến của người khác để giải quyết được yêu cầu trong bài tập đề ra. Trên cơ sở đó sinh viên tiếp thu những kiến thức lý thuyết hoặc tích lũy kinh nghiệm của mình hoặc của người khác.

- Bài tập nghiên cứu khoa học (NCKH):

Có mức độ yêu cầu cao hơn so với bài tập khác. Đề tài của bài tập nghiên cứu khoa học có thể do giáo viên đưa ra hoặc đó là một vấn đề sinh viên thực sự cảm thấy tâm đắc, hứng thú. Dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của giảng viên, sinh viên chủ động nghiên cứu để chứng minh những giả thuyết khoa học, hay lập luận để bác bỏ những quan niệm sai lầm. Bài tập NCKH phát huy cao độ tính nhận thức của người học, tiếp cận gần nhất về học tập NCKH, phục vụ trực tiếp NCKH sau này.

2.2. Giai đoạn giải quyết vấn đề:

Có nhiều cách tổ chức hoạt động dạy học và sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để giải quyết vấn đề đã được đặt ra trong các tình huống có vấn đề:

- Sử dụng hệ thống câu hỏi phỏng vấn để dẫn dắt, gợi mở.

- Tổ chức thảo luận chung cho cả lớp.

- Tổ chức thảo luận cho từng nhóm học, sau đó đại diện các nhóm nhỏ báo cáo kết quả thảo luận của nhóm mình.

- Sinh viên tiến hành độc lập nghiên cứu dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên, sau đó sinh viên báo cáo kết quả công việc  của mình trước lớp.

2.3. Giai đoạn củng cố và tổng kết:

Tùy theo dạng tình huống có vấn đề đặt ra như thế nào mà giáo viên có thể tổ chức củng cố và tổng kết theo cách tương ứng:

- Giáo viên trực tiếp rút ra kết luận hay khái quát những tri thức cần thiết.

- Sinh viên cần thống nhất ý kiến chung.

- Sinh viên tự rút ra kết luận, kinh nghiệm cho bản thân mình.

Nếu sau khi giải quyết vấn đề mà phát sinh vấn đề mới thì có thể chuyển về giai đoạn 1 của quá trình này.

3. Vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề vào học phần: Hoạt động dạy học:

Tên bài dạy: Kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong quá trình dạy học.

Phần I: Ý nghĩa của hoạt động kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.

Giai đoạn 1: Tạo tình huống có vấn đề.

Kiểm tra, đánh giá là hai hoạt động độc lập nhưng nó luôn đi song song, thậm chí đan xen lẫn nhau.Vậy kiểm tra, đánh giá có ý nghĩa như thế nào đối với hoạt động dạy học ? Chúng ta giải quyết tình huống sư phạm sau:

Bài kiểm tra một tiết môn Sử tại lớp 8A lần này kết quả thấp, không có điểm 9,10, lại có một số bài dưới điểm trung bình, mặc dù cô giáo đã hướng dẫn lớp ôn tập và nhắc nhở các em chuẩn bị bài trước khi kiểm tra. Giờ trả bài, sau khi cô giáo đã nhận xét, chữa bài cẩn thận nhưng không khí lớp học vẫn lặng lẽ khác hẳn mọi ngày.

1. Anh (chị) hãy dự kiến những nguyên nhân dẫn đến kết quả trên?

2. Theo anh (chị) qua kết quả kiểm tra lần này, GV và HS sẽ có những suy nghĩ gì?

Giai đoạn 2: Giải quyết tình huống có vấn đề.

GV tổ chức cho HS thảo luận trên lớp, SV trao đổi rồi đưa ra ý kiến của mình trước lớp. GV gợi ý để SV đưa ra các ý kiến:

Nguyên nhân của kết quả trên:

- HS chưa học bài cẩn thận.

- HS chưa nắm vững kiến thức cơ bản.

- Đề ra khó, không phù hợp với trình độ học sinh.

- GV chưa có phương pháp giảng dạy, ôn tập cho phù hợp…

Trên cơ sở đó GV gợi ý cho SV thảo luận: Thông qua bài kiểm tra đó GV cần rút ra những nhận xét gì ?

- Xác định trình độ nhận thức của HS đến đâu, phần kiến thức nào còn thiếu hụt.

- Xem lại phương pháp dạy học, ôn tập của mình.

- Xem lại việc ra đề kiểm tra…

Về phía HS cần rút ra kinh nghiệm gì?

- Tự đánh giá được mức độ nắm vững bài đến đâu.

- Cần cố gắng, tích cực học tập hơn nữa.

- Rút kinh nghiệm cho những bài kiểm tra sau…

Từ đó GV hướng dẫn SV rút ra được ý nghĩa của hoạt động kiểm tra, đánh giá đối với GV và HS.

GV tiếp tục đưa ra câu hỏi và gợi ý SV trả lời: Còn những đối tượng nào  quan tâm đến kết quả kiểm tra của HS ?

- Phụ huynh biết để nhắc nhở, giúp đỡ các em.

- Tổ chuyên môn biết để rút kinh nghiệm.

- Lãnh đạo nhà trường biết để quan tâm và có biện pháp quản lý thích hợp…

GV mở rộng phạm vi, hoàn thiện câu trả lời của SV.

Giai đoạn 3: Tổng kết.

GV chốt lại vấn đề thứ nhất: Khắng định vai trò, ý nghĩa của hoạt động kiểm tra, đánh giá đối với quá trình dạy học sau đó chuyển sang vấn đề tiếp theo của bài học.

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Wordpress Googlebuzz Myspace Gmail Newsvine Favorites More
You can leave a response, or trackback from your own site.

Đóng góp ý kiến